Thứ Hai, 1 tháng 8, 2011

Nghệ thuật tác chiến của lực lượng thông tin liên lạc trong Chiến dịch Đường 9 - Khe Sanh

alt
Bộ đội ta hành quân trong chiến dịch Đường 9 - Khe Sanh (Nguồn: Tư liệu)

Sau những thất bại nặng nề trên khắp chiến trường miền Nam, Mỹ - ngụy lâm vào thế bị động về chiến lược, buộc chúng phải chuyển vào phòng ngự, tập trung lực lượng bảo vệ các trọng điểm, tăng cường tuyến phòng thủ Đường 91, chặn đường vận chuyển chiến lược của ta từ miền Bắc XHCN cho chiến trường miền Nam. Trước bối cảnh đó, ta chủ trương mở Chiến dịch tiến công hiệp đồng binh chủng quy mô lớn, có ý nghĩa chiến lược tại mặt trận Đường 9 - Khe Sanh. Theo đó, lực lượng thông tin đã triển khai nhiều thành phần, nhiều loại phương tiện, trang bị2 nhằm bảo đảm thông tin một cách thống nhất, kịp thời đáp ứng yêu cầu của Chiến dịch. Nhiệm vụ của Chiến dịch là thu hút quân cơ động Mỹ, giam chân và tiêu diệt chúng, khi có điều kiện chọc thủng tuyến phòng ngự của địch, nối liền hậu phương với tiền tuyến, tạo thế cho các chiến trường khác, nhất là Thừa Thiên - Huế. Mặc dù Chiến dịch tiến hành trong điều kiện địa bàn rộng, địa hình rừng núi hiểm trở, ít dân, đối tượng tác chiến cơ bản là quân Mỹ, nhưng với sự chuẩn bị chu đáo (trong đó, có thông tin liên lạc), phương pháp tác chiến phù hợp và nỗ lực, ý chí quyết tâm cao của bộ đội, nên Chiến dịch đã thắng lợi; địch phải rút khỏi Đường 9 - Khe Sanh. Thắng lợi đó đã để lại nhiều bài học quý báu; trong đó, có bài học về nghệ thuật tạo thế, bố trí và sử dụng lực lượng Thông tin liên lạc.

Trước hết là nghệ thuật xây dựng thế trận thông tin liên lạc. Được sự chỉ đạo trực tiếp của Quân uỷ Trung ương, Cục Thông tin liên lạc đã chỉ đạo Trung đoàn thông tin 132 dây trần khẩn trương triển khai tuyến trục thông tin chiến lược từ trạm cơ vụ A72 (Quảng Bình) vào tới Quân khu Trị - Thiên dài 300 km. Lực lượng thông tin Chiến dịch đã triển khai mạng thông tin hữu tuyến điện (sử dụng dây bọc) từ Sở chỉ huy Chiến dịch đến sở chỉ huy các sư đoàn bộ binh, các cụm pháo binh, pháo cao xạ và các đơn vị binh chủng, nhất là những đơn vị trên hướng chủ yếu; có những hướng phải kéo dây dài tới 120 km, qua nhiều địa hình phức tạp. Hệ thống thông tin vô tuyến điện được tổ chức thành các cụm vô tuyến điện sóng ngắn và cực ngắn. Cụm vô tuyến điện sóng ngắn bảo đảm liên lạc trực tiếp với các sư đoàn, có thể vượt cấp xuống các trung đoàn bộ binh và được trạm chuyển tiếp vô tuyến điện đặt trên điểm cao 1035 tiếp sức. Như vậy, trước khi bước vào Chiến dịch, thế trận thông tin liên lạc đã hoàn chỉnh, bảo đảm thông suốt, vững chắc ở tất cả các hướng, các lực lượng, kể cả liên lạc về Bộ Tổng tham mưu bằng hai mạng: hữu tuyến điện (dây trần và dây bọc), vô tuyến điện (sóng ngắn và cực ngắn). Thế trận thông tin cũng liên tục chuyển hoá theo thế trận Chiến dịch, cũng như thế trận của các lực lượng, binh chủng. Chỉ sau 5 ngày nổ súng tiến công, lực lượng thông tin đã nhanh chóng xây dựng được “thế trận kép” (một sở chỉ huy ở hướng Đông và một sở chỉ huy ở hướng Tây Đường 9), bảo đảm cho Bộ Tư lệnh chỉ huy các lực lượng tác chiến kịp thời, sát các phương án và diễn biến Chiến dịch. Trong khi đó, thế trận thông tin chiến lược vẫn được giữ vững bằng việc sử dụng máy tải ba TCT-1 truyền tín hiệu qua tuyến trục dây trần và trạm thông tin tiếp sức vô tuyến điện.

Hai là, nghệ thuật tổ chức, sử dụng lực lượng, phương tiện thông tin liên lạc. Để phục vụ công tác chỉ huy, điều hành tác chiến của Bộ Tư lệnh, cơ quan thông tin Chiến dịch được xác lập với đủ các thành phần (tham mưu, chính trị, hậu cần và kỹ thuật) do Phó Cục trưởng thông tin liên lạc trực tiếp phụ trách, vừa đảm nhiệm chức năng là cơ quan tiền phương của Binh chủng, vừa là cơ quan chỉ huy trực tiếp các đơn vị thông tin trong Chiến dịch. Xác định đúng vai trò, chức năng của lực lượng Thông tin liên lạc trong chiến dịch hiệp đồng binh chủng quy mô lớn, Binh chủng đã điều động một lực lượng lớn, tổ chức thành các kíp (chiến đấu, sẵn sàng chiến đấu và dự bị) bổ sung cho các đơn vị, nhằm phục vụ chỉ huy, điều hành tác chiến 24/24 giờ trên tất cả các kênh. Thực hiện chủ trương vừa chiến đấu, vừa xây dựng lực lượng, cơ quan thông tin đã bố trí cán bộ chỉ huy, nhân viên kỹ thuật có trình độ đồng đều ở các vị trí, nhằm bồi dưỡng và bổ sung cho nhau, coi trọng bồi dưỡng những chiến sĩ mới bổ sung về đơn vị. Do đó, trong quá trình thực hành Chiến dịch, càng đến giai đoạn cuối, lực lượng thông tin càng lớn mạnh, bảo đảm thông tin càng vững chắc. Để thống nhất kế hoạch tổ chức, sử dụng lực lượng thông tin toàn chiến dịch, cơ quan thông tin đã tổ chức hội nghị hiệp đồng giữa các đơn vị thông tin cấp trên, cấp dưới cùng các đơn vị thông tin trực thuộc Cục đang làm nhiệm vụ trên địa bàn Chiến dịch. Nhờ đó, lực lượng thông tin đã triển khai được hai sở chỉ huy Chiến dịch theo đúng ý định của Bộ Tư lệnh Chiến dịch trong một thời gian ngắn, bảo đảm thông tin thông suốt, vững chắc ở tất cả các cấp.

Cùng với đó, Cục Thông tin liên lạc đã chuẩn bị ngay từ đầu một số lượng lớn khí tài cùng các trang thiết bị, vật tư bổ sung cho các sư đoàn, các phân đội thông tin ở Sở chỉ huy Chiến dịch và làm nguồn dự trữ chiến đấu. Được sự chỉ đạo của Bộ Tư lệnh Chiến dịch, cơ quan thông tin đã bố trí cụm điện đài “kẹp nách” sở chỉ huy (đặt máy vô tuyến điện sát cạnh cơ quan Tham mưu và Tư lệnh Chiến dịch) để liên lạc với hướng chủ yếu hoặc làm nhiệm vụ đặc biệt quan trọng, liên lạc theo kiểu “bút đàm” bảo đảm tính kịp thời của thông tin chỉ huy. Việc tổ chức, đưa vào sử dụng một số loại phương tiện, khí tài thông tin mới, như: máy tải ba, vô tuyến điện tiếp sức và nhiều loại máy vô tuyến điện sóng cực ngắn ở Sở chỉ huy Chiến dịch; đồng thời, bố trí các cụm vô tuyến điện sóng ngắn và cực ngắn trên các điểm cao vừa tăng thêm nhiều loại phương tiện thông tin liên lạc, vừa tăng được cự li, khả năng kháng nhiễu và tránh được sự khống chế thông tin của địch. Đây là bước phát triển mới về khả năng khai thác, sử dụng các loại khí tài thông tin mới của bộ đội ta, làm phong phú thêm hình thức, phương pháp truyền nhận lệnh. Mặt khác, khi có nhiều phương tiện thông tin cùng hoạt động, hệ thống thông tin Chiến dịch càng được củng cố vững chắc hơn.

Ba là, nghệ thuật phát huy sức mạnh tổng hợp của các lực lượng, các hệ thống thông tin. Ngay từ khi bước vào chuẩn bị Chiến dịch, Cục Thông tin liên lạc trực tiếp chỉ đạo đơn vị thông tin dây trần cùng lực lượng thông tin của Quân khu Trị - Thiên và nhân dân trên địa bàn triển khai đường dây thông tin hữu tuyến điện chiến lược theo sở trường, thế mạnh của từng đơn vị. Theo đó, Trung đoàn Thông tin 132 là đơn vị có nhiều kinh nghiệm, năng lực chuyên môn tổ chức triển khai xây dựng các tuyến thông tin hữu tuyến điện; lực lượng thông tin Quân khu Trị - Thiên là đơn vị nắm chắc tình hình địa bàn và quen biết địa hình, đã có mặt trên địa bàn, triển khai trước một số đường dây bọc đi các hướng, nhất là hướng Tây và hướng Nam Đường 9 phục vụ chỉ huy tác chiến. Để có sự thống nhất khi sử dụng khí tài thông tin, giải tần làm việc, thời gian mở đài cũng như các hình thức, phương pháp và tín hiệu hiệp đồng được cơ quan thông tin xây dựng thống nhất trong kế hoạch bảo đảm. Trong quá trình thực hành tác chiến, cơ quan thông tin xác định lấy thông tin vô tuyến điện làm phương tiện chủ yếu nhưng vẫn phải kết hợp chặt chẽ với thông tin hữu tuyến điện nhằm tăng khả năng bảo đảm thông tin liên lạc. Theo đó, cơ quan thông tin đã khéo tổ chức, sử dụng nhiều loại khí tài thông tin vô tuyến điện tạo thành các cụm vô tuyến điện (sóng ngắn và cực ngắn), nhằm bảo đảm trong cùng một thời gian có nhiều đài làm việc ở nhiều tần số khác nhau. Việc bí mật bố trí, triển khai trạm thông tin tiếp sức vô tuyến điện trên điểm cao 1035 làm cho địch hoàn toàn bất ngờ; ta thì tăng được cự li thông tin liên lạc, cho phép nối các cụm vô tuyến điện sóng cực ngắn với Sở chỉ huy Chiến dịch, sở chỉ huy của các sư đoàn, trung đoàn, thậm chí làm nhiệm vụ chuyển tiếp thông tin đến các cụm pháo binh, pháo cao xạ, báo cáo về sở chỉ huy các cấp và về Bộ Tổng tham mưu.

Lực lượng thông tin Chiến dịch mặc dù đã có nhiều hình thức, biện pháp bảo đảm thông tin Chiến dịch thông suốt, vững chắc, nhưng việc thực hành tổ chức, bảo đảm thông tin liên lạc Chiến dịch còn bộc lộ một số hạn chế; đó là: chưa tổ chức được một lực lượng dự bị mạnh ở tất cả các cấp để sẵn sàng bổ sung cho Chiến dịch khi có tình huống tác chiến đột xuất (ngoài dự kiến); chưa tổ chức tổng trạm thông tin dự bị làm cơ sở cho chỉ huy Chiến dịch.

Nhìn lại chiến dịch Đường 9 - Khe Sanh năm xưa, chúng ta càng nhận thấy những bài học quý báu về nghệ thuật tác chiến của lực lượng Thông tin liên lạc vẫn còn nguyên giá trị trong việc xây dựng Binh chủng Thông tin liên lạc hiện nay theo hướng hiện đại. Theo đó, cùng với hiện đại hóa trang bị, phương tiện thông tin liên lạc, phải tiếp tục nghiên cứu phát triển nghệ thuật tác chiến thông tin liên lạc để bảo đảm đánh thắng địch trong mọi tình huống, cả khi chúng sử dụng vũ khí công nghệ cao.

Thiếu tướng NGÔ VĂN SƠN

Tư lệnh Binh chủng QPTD - Thứ hai, 11/ 7/2011-16:00:40

1 - Khoảng 45.000 quân (28.000 quân Mỹ), gồm: 3 trung đoàn lính thủy đánh bộ tăng cường, 9 tiểu đoàn pháo binh, 3 tiểu đoàn và một đại đội cơ giới,…

2 - Về lực lượng có: Ban thông tin ở Sở chỉ huy Chiến dịch, Tiểu đoàn 66, Tiểu đoàn thông tin 46 Quân khu Trị - Thiên; trang thiết bị và khí tài thông tin gồm: 30 máy 15w, 70 máy K63, 115 máy P105, 35 máy 71B, 30 máy thu, 41 máy tải ba TCT-1, 650 máy điện thoại, 1.500 km dây bọc, 28 máy nổ SS-125, 70 súng pháo hiệu, 5.000 đạn pháo hiệu, 80 tấn pin các loại,...

Tác chiến điện tử và chiến tranh thông tin của Quân đội Mỹ và đồng minh

Tác chiến thông tin – điện tử và chiến tranh thông tin
của Quân đội Mỹ và đồng minh

Tác chiến thông tin – điện tử và chiến tranh thông tin của Quân đội Mỹ và đồng minh được tiến hành trong mọi lĩnh vực và trên tất cả các hướng, tác động trước hết đến hệ thống chỉ huy.

Về lĩnh vực này, quân đội Mỹ và đồng minh luôn xác định, cuộc chiến trên sóng và trong lĩnh vực thông tin là vô hình và không cảm thấy về mặt tâm lý. Thực chất của tác chiến thông tin – điện tử là giáng các đòn tập kích hỏa lực và vô tuyến điện một cách có phối hợp và theo mục đích, nhiệm vụ, vị trí, thời gian xác định.

Mục đích của các đòn tập kích này là phá vỡ tổ chức hệ thống chỉ huy lực lượng và điều khiển vũ khí của đối phương, làm tê liệt hoạt động của hệ thống trinh sát, chống vô tuyến điện, phòng không, cũng như tiêu diệt những thành phần quan trọng nhất của các đơn vị trinh sát và hỏa lực đối phương.

Cuối cùng tác chiến thông tin điện tử không chỉ là giành ưu thế thông tin, mà cả ưu thế trong chỉ huy nói chung. Ưu thế này đạt được thông qua tiến hành các biện pháp bảo đảm hoạt động vững chắc của các hệ thống chỉ huy lực lượng và vũ khí, trinh sát và chống vô tuyến điện, cũng như bảo vệ các đơn vị, các mục tiêu của quân Mỹ và đồng minh.


Tác chiến điện tử ngày càng tỏ rõ vai trò then chốt
trong chiến tranh hiện đại.

Các mặt trong tác chiến điện tử

Bộ phận hợp thành của tác chiến thông tin điện tử là tác chiến vô tuyến điện, bao gồm chế áp vô tuyến điện, bảo đảm thông tin vô tuyến và bảo vệ vô tuyến điện.

Về mặt kỹ thuật, tác chiến vô tuyến điện là tác động bức xạ điện từ và các dạng năng lượng định hướng khác đối với các phương tiện vô tuyến điện, binh lính và các cơ quan chỉ huy, kỹ thuật chiến đấu, các mục tiêu quân sự, vũ khí và mạng máy tính của đối phương.

Về mặt chiến thuật, tác chiến vô tuyến điện bao gồm tổ chức bảo vệ vô tuyến điện và bảo đảm vô tuyến điện cho các hoạt động chiến đấu .


Nếu được phát huy hiệu quả, hệ thống tác chiến điện tử
sẽ vô hiệu hóa sự phản kháng của đối phương.

Trong tổ chức chống vô tuyến điện, những năm gần đây Quân đội Mỹ và đồng minh không ngừng tăng cả về số lượng và chất lượng các phương tiện vô tuyến điện, tiếp tục trang bị các loại thiết bị vô tuyến điện có chức năng khác nhau.

Bên cạnh triển vọng, sự phát triển này bộ lộ các mặt hạn chế là làm tăng gánh nặng bảo đảm điều kiện dung hợp điện từ; số kênh liên lạc trùng lắp tăng lên, gây phức tạp đáng kể cho việc chế áp đài vô tuyến điện. Bên cạnh đó, hệ thống chỉ huy lực lượng và điều khiển vũ khí biểu lộ nhiều khả năng dễ bị tổn thương và dễ bị phát hiện.

Mối quan hệ của tác chiến điện tử trong chiến tranh hiện đại

Trong tác chiến điện tử, Mỹ và đồng minh đề cao việc sử dụng các đơn vị bộ binh cơ giới và xe tăng, vì các đơn vị này đóng vai trò khá quan trọng trong việc loại khỏi vòng chiến đấu các đài chỉ huy của đối phương. Hoạt động trong thành phần các nhóm trinh sát tuyến trước, vu hồi, đột kích, các đơn vị này có thể thâm nhập vào sâu trong hậu phương đối phương, thực hiện tập kích vào các đầu mối liên lạc, tổ chức phục kích, cắt đứt các đường dây liên lạc hữu tuyến, tiêu diệt các trạm radar.

Trong cuộc chiến tại Iraq, Quân đội Mỹ và đồng minh đã triển khai mạnh các hoạt động tác chiến thông tin điện tử. Trong đó đã thực hiện sự tác động thông tin cực mạnh đối với Quân đội Iraq và người dân Mỹ thông qua việc sử dụng các phương tiện thông tin đại chúng nhằm chế áp tâm lý và tung hỏa mù.

Bằng việc tiến hành các chiến dịch vô tuyến điện, các hoạt động tổng lực và toàn diện về tư tưởng, tuyên truyền cũng được tăng cường. Ngay trước khi tiến hành các hoạt động quân sự, Quân đội Mỹ đã triển khai các lực lượng và phương tiện chống vô tuyến điện cả trên không, trên bộ và trên biển thông qua các máy bay chống vô tuyến điện thế hệ mới như EC-130H, EA-6B, bảo đảm chế áp các radar phòng không trong nằm sâu trong lãnh thổ Iraq. Các thiết bị tác chiến điện tử đã và đang được quân đội Mỹ hiện đại hóa về khả năng, gần đây nhất là thế hệ máy bay EA-18G Growler được ra đời.


Máy bay chiến thuật chống vô tuyến điện EC-130H.

Chiến thuật hỗ trợ tác chiến điện tử

Để đảm bảo cho việc chống lại sự tấn công vô tuyến điện của đối phương, Quân đội Mỹ và đồng minh, cũng như một số quốc gia khác đã thực hiện nhiều các biện pháp kỹ thuật và chiến thuật.

Trong đó, có việc sử dụng các đơn vị bộ binh cơ giới và xe tăng được ngụy trang tỷ mỉ; các trận địa, vị trí và kỹ thuật quân sự, các mục tiêu giả, kết hợp điều kiện địa hình nhằm chống lại có hiệu quả các phương tiện trinh sát quang học, radar và hồng ngoại, làm giảm xác suất bị phát hiện. Bên cạnh đó, biện pháp sơn ngụy trang các phương tiện vô tuyến điện và kỹ thuật liên lạc sẽ tránh được sự phát hiện bằng mắt thường và quang học.

Trong đối kháng thông tin, Quân đội Mỹ và đồng minh đã sử dụng các biện pháp tạo ra các màn radio khác nhau, thực hiện phong tỏa radar, tạo nhiễu vô tuyến điện chủ động và thụ động, sử dụng các phương tiện trinh sát vô tuyến và trinh sát kỹ thuật vô tuyến và chế áp vô tuyến điện khá linh động.


Quân đội Czech triển khai một đơn vị tác chiến điện tử.

Trong nghiên cứu và phát triển các thiết bị tác chiến điện tử, Mỹ và đồng minh đã đặc biệt coi trọng tới việc liên tục cải tiến khả năng của các hệ thống cảm biến điện tử hiện đại lắp đặt trên các máy bay tác chiến điện tử, do đó có thể theo dõi, phát hiện, xác định và vô hiệu hóa các hệ thống theo dõi điện tử của đối phương trên nguyên tắc thực thi bảo đảm khả năng tự bảo vệ bằng gây nhiễu sóng điện tử; thực hiện chế áp điện tử đối với các thiết bị trinh sát của đối phương và hỗ trợ các máy bay cùng thực hiện nhiệm vụ.

Trong chiến đấu, các máy bay tác chiến điện tử đóng vai trò quan trọng trong nhiệm vụ phát hiện sớm và cảnh giới các hệ thống theo dõi, đánh lừa các hệ thống tác chiến điện tử và hệ thống điều khiển bắn tên lửa và pháo phòng không của đối phương.

Máy bay tác chiến điện tử cũng có thể gây nhiễu, làm sai lệch thông tin và làm tê liệt khả năng tác chiến của hệ thống phòng không đối phương; chúng thường đi cùng các máy bay chiến đấu thực hiện nhiệm vụ tiêu diệt hệ thống phòng không của đối phương bằng các tên lửa chống bức xạ (SEAD) và chỉ điểm trận địa phòng không cho các máy bay chiến đấu.

Lực lượng Tác chiến điện tử của Hải quân Nga

Các hệ thống tác chiến điện tử của Nga được phát triển mạnh từ những năm 1980 và được coi là các tổ hợp đa chức năng và hiệu quả.

Các hệ thống tác chiến điện tử có thể nhanh chóng đánh giá tình trạng của sóng điện từ trên chiến trường, gây nhiễu sóng trinh sát của đối phương, cũng như các hệ thống kiểm soát vũ khí và binh lính.

Xuất phát từ vị trí và vài trò của tác chiến điện tử, Bộ Quốc phòng Nga đã xếp lực lượng này quan trọng ngang hàng với các ưu tiên chính trị quân sự hàng đầu.

Trong những năm gần đây, Nga không ngừng tăng cường sức mạnh cho lực lượng tác chiến điện tử, trong đó tích cực sử dụng lực lượng tác chiến điện tử của Hải quân để thu thập các tin tức tình báo, đồng thời nghiên cứu chế tạo, biên chế các chủng loại vũ khí, kỹ thuật mới cho lực lượng Hải quân nước này.

Bộ Quốc phòng Nga đã xếp Lực lượng Tác chiến điện tử của Hải quân Nga quan trọng ngang hàng với các ưu tiên chính trị quân sự hàng đầu.

Cụ thể, Hải quân Nga tích cực sử dụng các hệ thống vệ tinh để thu thập các thông tin tình báo tác chiến điện tử. Hải quân Nga hiện nay thu thập các thông tin tình báo điện tử chủ yếu thông qua hệ thống vệ tinh, máy bay và các tàu hoạt động trên biển. Trong đó, hệ thống vệ tinh tình báo của Nga rất phong phú và đa dạng.

Sau khi Liên Xô tan rã năm 1991, Nga tiếp quản khoảng 300 vệ tinh để thu thập thông tin, 96% là vệ tinh dùng cho quân sự, các vệ tinh này không chỉ có lượng lớn mà còn đầy đủ các tính năng và chất lượng nổi trội.

Các vệ tinh tình báo của Nga bao gồm có vệ tinh giám sát trên biển; vệ tinh thăm dò radar và vệ tinh trinh sát vô tuyến điện. Ngoài ra, Nga còn sở hữu công nghệ không gian thuộc dạng hiện đại nhất thế giới.

Nhờ những loại kỹ thuận hiện đại, Hải quân Nga có thể nhanh chóng triển khai hệ thống các vệ tinh tình báo điện tử trên biển để thu được thông tin tình báo điện tử quan trọng, nhằm đề ra những đối sách phù hợp trong những trường hợp có sự có xảy ra trên biển và có khả năng kiểm soát và phá huỷ các vệ tinh tình báo của địch.

Bên cạnh đó, Nga còn sử dụng hàng trăm chiếc máy bay trinh sát tình báo các loại và hàng chục chiếc tàu thuyền làm nhiệm vụ thu thập các thông tin tình báo trên biển, đến các vùng biển tương ứng, để thu thập các thông tin tình báo điện tử của các quốc gia có liên quan.

Trong phương diện thu thập thông tin tình báo điện tử, Hải quân Nga đang tiếp tục thu thập hoạt động tình báo đối với một số nước như Mỹ, Nhật,…

Hải quân Nga đang sở hữu nhiều loại vũ khí tác chiến điện tử hiện đại.

Ngoài ra, Nga còn phát triển Hệ thống Chỉ huy tác chiến điện tử trên biển, các Hạm đội của Hải quân Nga thông qua mệnh lệnh và hệ thống chỉ huy để chỉ huy hàng trăm máy bay và tàu thuyền cùng một lúc trong khu vực bị nhiễm sóng điện từ mạnh.

Trong khu vực tác chiến, hệ thống C3I có thể tấn công đối tượng trên quy mô lớn, đồng thời hiệp đồng có hiệu quả với các Hạm đội để phòng ngự phòng không trong chiến tranh điện tử.

Trong chiến đấu, các cảnh báo từ xa của Hạm đội Hải quân Nga và chỉ huy tác chiến điện tử chủ yếu là do máy bay cảnh báo sớm AN-72 và hệ thống C3I trên tàu đảm nhiệm. Các máy bay cảnh báo sớm, có thể phát hiện được các sóng ra đa mục tiêu ở cự ly 600 km.

Các Hạm đội ở khu vực gần và tầm trung sẽ đảm nhiệm tác chiến điện tử phòng ngự trong khu vực đó. Hải quân Nga chủ yếu là dựa vào hệ thống cảnh báo sớm được trang bị trên các tàu thăm dò radar và trên máy bay trực thăng Helix phiên hiệu Ka-29RLD.

Trong đó, hệ thống cảnh báo sớm trên máy bay trực thăng Helix chính là hệ thống angten được bố trí ở dưới thân máy bay; nó có đầy đủ tính năng thăm dò và trinh sát, kịp thời thông tin cung cấp các số liệu cho tàu chỉ huy như số liệu tình báo ở cự ly xa thông qua trang thiết bị trinh sát thăm dò có trên tàu, để từ đó giúp đỡ biên đội tàu tổ chức phòng ngự tác chiến điện tử.

Để từng bước nâng cao năng lực chỉ huy trong tác chiến điện tử trên biển, hiện nay Hải quân Nga tiếp tục sử dụng cảnh báo sớm của máy bay AN-74 trên tàu Kuznetsov, đồng thời tiếp tục tăng biên chế thêm hệ thống C3I trên các tàu sân bay mới, từng bước cải thiện tốc độ và khả năng tác chiến của các tàu trên biển.

Máy bay tác chiến điện tử

Máy bay tác chiến điện tử của Nga gồm có 3 loại, chủ yếu được cải tiến từ các loại máy bay khác.

Máy bay vận tải AN-12 được cải tiến thành AN-12PP được bố trí bộ phận gây nhiễu đánh lừa có thể che phủ ít nhất 05 tầng sóng ngắn.

Thứ nhất, được cải tiến từ các máy bay vận tại cỡ lớn, dùng để chi viện gây nhiễu máy bay, như máy bay vận tải AN-12 được cải tiến thành AN-12PP; máy móc gây nhiễu được bố trí với công suất lớn và khá phức tạp, bộ phận gây nhiễu đánh lừa có thể che phủ ít nhất 5 tầng sóng ngắn, gây nhiễu radar và hệ thống thông tin liên lạc của địch.

Thứ hai, được cải tiến từ các máy bay chiến đấu, có nhiệm vụ đi theo đội hình và gây nhiễu đối phương, như máy bay Tu-16pp “badger – J ”, Tu-22E, các máy bay mang theo các trang thiết bị tác chiến điện tử như SPS-1, SPS2 và máy bay gây nhiễu kiểu mới SPS-44 có khả năng nhiễu sóng ra đa của đối phương ở giải tần từ 0~20Ghz.

Máy bay “con mắt – E” trang bị tác chiến điện tử chủ yếu là gây nhiễu hệ thống trinh sát điện tử Fasol, hiện Hải quân Nga có 60 chiếc như vậy.

Trực thăng Ka-27 có khả năng chặn tín hiệu và gây nhiễu trang thiết bị điện tử của đối phương.


Thứ ba, các máy bay trực thăng được cải tiến thành máy bay trực thăng tác chiến điện tử như Mi - 8J, có khả năng gây nhiễu ra đa và gây nhiễu hệ thống thông tin. Ngoài ra, Hải quân Nga còn khoảng 60 trực thăng Ka-27 chủ yếu trên các chiến hạm, có khả năng chặn tín hiệu và gây nhiễu trang thiết bị điện tử của đối phương.

Hiện nay các trang thiết bị được bố trí trên các máy bay tác chiến điện tử của Nga đang có được những ưu thế riêng và nhiều đặc tính nổi trội mà các quốc gia khác không thể so kịp như các trang thiết bị thăm dò của Nga có bước sóng dài 2-3cm và nhiều hơn phân nửa các chùm sóng mà các nước phương Tây sử dụng; có độ chính xác cao, độ chính xác trong đo lường đạt 2-3 độ; có những trang thiết bị đã được phát triển đến tần số sóng cực thấp, có khả năng uy hiếp ra đa ở tần số 18 - 40Ghz.

Song nhược điểm của máy bay tác chiến của Hải quân Nga là không có đủ các linh kiện phần cứng điều khiển tiên tiến cho các trang thiết bị tác chiến điện tử.

Tên lửa chống bức xạ

Tên lửa chống bức xạ (ARM) là loại vũ khí tầm xa tấn công bằng điện tử có hiệu quả sát thương cao nhất, thường được sử dụng trong tấn công hệ thống C3I của kẻ địch nơi phát động chiến tranh, nó trực tiếp phá hủy các radar, hệ thống thông tin liên lạc và các trang thiết bị gây nhiễu của kẻ địch.

Tên lửa chống bức xạ (ARM).

Hiện Nga phát triển ARM đến thế hệ thứ 3; Hải quân Nga sở hữu nhiều thế hệ tiên tiến nhất của ARM như KH-3, đây là hệ thống đã được Nga dùng trong chiến tranh Vùng Vịnh, có khả năng vượt trội so với tên lửa chống xạ thế hệ thứ 3 của Mỹ.

Nga đã biên chế KH—31 cho tàu “Admiral Kuznetsov”; KH-31 là loại tên lửa có hệ thống dẫn đường, nó không chỉ tấn công ra đa loại AN – MPQ - 53 mà còn có thể tấn công máy bay cảnh báo sớm như E-3A của Mỹ và các nước hiện có.

Hệ thống radar chiến hạm thăm dò đối phương

Hải quân Nga hiện sử dụng khoảng 30 loại trang thiết bị radar dùng trên chiến hạm để thăm dò đối phương. Trong đó, thiết bị radar trinh sát Brick là một trong những loại thiết bị được trang bị cho tàu ngầm.

Nga trang bị một loạt các thiết bị radar trinh sát trứ danh Clock cho các chiến hạm và radar gây nhiễu Side Ball. Hiện nay, Hải quân Nga đang sử dụng thiết bị radar trinh sát mới như Flat Road, Glass, radar gây nhiễu Bottle.

Một hệ thống radar cơ động thăm dò.

Thiết bị trinh sát Glass áp dụng cho kỹ thuật trinh sát trên không. Theo đánh giá, thiết bị gây nhiễu Bottle có tính năng ngang bằng so với thiết bị AN/ SLQ-32 được sử dụng trên các chiến hạm Mỹ.

Trình độ kỹ thuật thiết bị radar dò tìm trên chiến hạm của Nga có trình độ ngang bằng với các quốc gia châu Âu như Anh, Pháp,... Bên cạnh đó, nhờ việc học hỏi các kỹ thuật tiên tiến của phương Tây, đẩy mạnh phát triển máy tính, kỹ thuật số và các thiết bị radar dò tìm gắn trên chiến hạm của Nga có thể xử lý nhanh chóng, phân đoạn tín hiệu, thống nhất hóa năng lực trinh sát và gây nhiễu, cải thiện và nâng cao trình độ các thiết bị, rút ngắn khoảng cách với Mỹ.

Thiết bị quang điện đối kháng trên chiến hạm

Nga là nước đi đầu thế giới về lĩnh vực kỹ thuật quang điện đối kháng, thậm chí Nga còn sở hữu kỹ thuật đối kháng tia laser. Ưu thế loại kỹ thuật này chủ yếu hưởng lợi từ việc ra sức mở rộng truyền hình quân sự, thiết bị thăm dò bám theo tia hồng ngoại và laser dưới thời Liên Xô cũ trong những năm 1970.

Đồng thời những năm 1980, đầu tư nghiên cứu chiến lược và áp dụng vũ khí kỹ thuật laser. Lúc đó, Liên Xô bố trí hai loại vũ khí tia laser phản vệ tinh trên mặt đất, dùng phá hủy quỹ đạo vận hành trinh sát của Mỹ trên địa cầu.

Ngày nay, Nga tiếp tục gấp rút phát triển kỹ thuật điện quang đối kháng, nghiên cứu đề xuất thiết bị điện quang ứng dụng cho Hải quân như máy gây nhiễu hồng ngoại L1668IA, đây là máy được trang bị cho máy bay trực thăng trên chiến hạm, có thể gây nhiễu như là tên lửa không đối không Sidewinder và Falcon, tên lửa đất đối không Red Eye, Small Oak và tên lửa không đối không của Pháp Mica, các thiết bị gây nhiễu hồng ngoại này có tuổi thọ là 1.200 giờ.

Việc sử dụng thiết bị quang điện đối kháng mới làm cho chủng loại và chất lượng thiết bị quang điện đối kháng trên chiến hạm Nga phát sinh biến hóa và hiệu quả lớn hơn.

Hải quân Nga không chỉ có chiến hạm bắn tia hồng ngoại và đạn laser mồi nhử tiên tiến mà sử dụng cả thiết bị gây nhiễu và hệ thống cảnh báo laser của các quốc gia phương Tây như máy gây nhiễu hồng ngoại TSHU-17 và máy cảnh báo laser Spektr-F.

Thiết bị gây nhiễu hồng ngoại TSHU-17 có hình thức điều chỉnh đa dạng, đồng thời có thể đối phó được các loại tên lửa uy hiếp trên biển. Máy cảnh báo laser Spektr-F có thể cảnh báo 4 mục tiêu nguy hiểm bên cạnh tàu chiến hạm, với độ lệch chính xác ± 5 độ nên đưa ra số liệu góc ngắm và phương vị của mối nguy hiểm

Thiết bị gây nhiễu thụ động

Thiết bị gây nhiễu thụ động trên chiến hạm chủ yếu do kiểu bắn từ pháo cối và đạn gây nhiễu mồi nhử kết hợp tạo thành. Thiết bị gây nhiễu thụ động trên chiến hạm của hải quân Nga tương đối hiện đại.

Hiện nay hình thành hàng loạt trang bị được gắn với các loại chiến hạm lớn, vừa và nhỏ. Trong đó, có hai ống bắn xoay tròn Pk-2, 16 ống bắn cố định Pk-16, 10 ống bắn cố định Pk-10.

Những thiết bị bắn này thông qua chỗ tiếp nối lắp ráp và ra-đa trên chiến hạm; các thiết bị cảnh báo trinh sát và hồng ngoại kết hợp với nhau, có thể căn cứ thuộc tính của mục tiêu uy hiếp, tự động lựa chọn bắn đạn mồi nhử thích hợp. Với các đạn mồi nhử, Hải quân Nga có đạn TSP-47, TSP-60U, SR-60; đạn hồng ngoại TST-47, TST-60U; đạn laser hỗn hợp/ hồng ngoại tiên tiến như SOM-50 và đạn tổng hợp như Sk 50.SOM-50 với đường kính 120ml, dài 12.26 li, trọng lượng 26kg.

Kích thước, trọng lượng SK-50 giống SOM-50. Các tính năng như diện tích phản xạ của đạn mồi nhử, phạm vi tỏa ra, thời gian trên không, cường độ bức xạ, thời gian bốc cháy của Nga tương đối bằng kỹ thuật các quốc gia phát triển phương Tây và phù hợp yêu cầu tác chiến hiện đại trên biển.

Thiết bị đối kháng âm thanh dưới nước

Kỹ thuật đối kháng âm thanh dưới nước của Nga khá hiện đại. Trong phương diện phá hủy âm thanh dưới nước của vũ khí từ xa, các loại vũ khí mới đại diện phương pháp phi âm thanh của Hải quân Nga về kỹ thuật thăm dò phản xô na và tính chủ động xô na có ngư lôi và thủy lôi, trong đó có các loại ngư lôi như ngư lôi siêu trọng phản chiến hạm DST-92, ngư lôi thả dù chống tàu ngầm APR-2E, ngư lôi hạng nặng chống tàu ngầm TEST-96 và ngư lôi USET-95; thủy lôi gồm có thủy lôi tự chìm SMDM, hệ thống thủy lôi chống tàu ngầm PMK-1 và thủy lôi kiểu tên lửa MSHM.

Trong số đó, ngư lôi hạng nặng DST-92 được áp dụng kỹ thuật tiên tiến phi âm thanh - thăm dò phản sonar, là loại ngư lôi tự động tấn công tàu hàng sân bay, các âm thanh mồi nhử và khí tài gây nhiễu trong nước có tác dụng hỗ trợ, trừ khi các thủy thủ được huấn luyện ứng phó bên ngoài, không thì cho đến nay chưa có biện pháp đối phó hiệu quả phương thức trên.

Trong phương diện chống nhiễu sóng âm dưới nước và gây nhiễu âm thanh, Hải quân Nga không chỉ áp dụng phổ biến cho các tàu ngầm nhằm đối phó khả năng thăm dò và làm suy yếu ngư lôi của đối phương, mà sử dụng nhiều đạn tạo khí để chống nhiễu sóng.

Hải quân Nga không chỉ áp dụng phổ biến các thiết bị gây nhiễu cho các tàu ngầm mà còn cho cả tàu chiến.

Ngoài ra, Hải quân Nga còn sử dụng số lượng lớn tàu điều khiển gây nhiễu tiếng ồn và tự động gây nhiễu suy giảm thiết bị thăm dò của đối phương. Hải quân Nga có đạn âm thanh mồi nhử GPD-3 sau khi được bắn, nó có thể thăm dò tối đa ở cự ly 250m với vận tốc 15 hải lý/giờ.

GPD-3 rất hiện đại bởi nó có tiếng ồn gây nhiễu, gây nhiễu chọn lựa và có 3 phương thức mô phỏng âm thanh vọng lại; chúng do máy phát tiếng ồn xô na lắp đặt hiệu ứng băng từ nam châm tạo thành, dùng để mô phỏng tín hiệu đặc trưng đường đi của tàu ngầm, GDP-3 là có hai cách bắn tự động và có điều khiển. Trong đó, bắn tự động là để gây nhiễu ngư lôi địch, bắn điều khiển do người bắn dùng để khống chế thời gian bắn và đối phó với thiết bị truyền cảm xô na của tàu chiến đối phương.

Quan điểm về chiến tranh điện tử của Không Quân Mỹ

Tổng kết các cuộc xung đột vũ trang xảy ra sau Chiến tranh thế giới lần thứ II Lầu năm góc đã không ngừng tăng cường quan tâm đến các vấn đề của chiến tranh điện tử (Electronic Warfare-EW). Bộ chỉ huy lực lượng không quân Mỹ đã mở rộng đáng kể phạm vi của khái niệm “chiến tranh điện tử” và xác định rõ vai trò, vị trí, và nội dung của chiến tranh điện tử trong hoạt động chiến đấu của lực lượng không quân.

Các chuyên gia quân sự Mỹ, tổng kết các cuộc xung đột vũ trang xảy ra sau Chiến tranh thế giới lần thứ II, nhấn mạnh rằng “việc chiếm ưu thế trong lĩnh vực sử dụng năng lượng điện-từ ngày càng có ý nghĩa quan trọng trong các cuộc xung đột. Hệ quả của nó là lãnh đạo lầu năm góc đã không ngừng tăng cường quan tâm đến các vấn đề của chiến tranh điện tử (EW). Riêng Bộ chỉ huy lực lượng không quân Mỹ đã mở rộng đáng kể phạm vi của khái niệm “chiến tranh điện tử" và xác định rõ vai trò, vị trí, và nội dung của chiến tranh điện tử trong hoạt động chiến đấu của lực lượng không quân”.



Cho đến giữa những năm 70 của thế kỷ 20 thuật ngữ “chiến tranh điện tử” (Electronic Warfare-EW) trên các báo chí quân sự được định nghĩa là một hoạt động tác chiến điện tử hoặc là phương thức, biện pháp đối đầu quân sự trong lĩnh vực sử dụng bức xạ điện từ, được sử dụng để mô tả cái gọi là “phương thức đối phó điện tử “ (Electronic Counter Measures – ЕСМ), “phương thức phản-đối phó điện tử” (Electronic Counter-Countermeasures - ЕССМ) và “đảm bảo điện tử” cho các phương thức này (Electronic Support Measures - ESM). Các cuộc xung đột ở Đông Nam Á, Trung Đông, Libya và vùng vịnh Ba Tư, cùng với việc trang bị cho quân đội các hệ thống trinh sát và tác chiến điện tử mới, các hệ thống điều khiển mới có hiệu quả cao đã buộc phải xem xét lại quan điểm sử dụng các hệ thống điện tử trên chiến trường. Kết quả lực lượng không quân Mỹ đã soạn thảo và xây dựng các luận điểm lớn về sử dụng các thiết bị điện tử đảm bảo cho tác chiến quân sự hiện đại. Trong lực lượng không quân Mỹ, hệ thống các luận điểm này được gọi là “tác chiến điện tử” (Electronic Combat - EC).

Theo quan điểm hiện đang tồn tại trong lực lượng không quân Mỹ thì EC không nằm trong số các nhiệm vụ hàng đầu trong các chiến dịch của không quân. Nhưng đồng thời EC cũng không chỉ còn thực hiện nhiệm vụ đảm bảo, mà trong một tương lai rất gần EC sẽ thực hiện các nhiệm vụ tác chiến độc lập khác. Điều này cho thấy rõ tầm quan trọng của tác chiến điện tử và những thay đổi trong nội dung cụ thể của nó.

Theo đánh giá của Bộ chỉ huy lực lượng không quân Hoa Kỳ, tác chiến điện tử bao gồm lý thuyết và thực tiễn ứng dụng năng lượng điện từ bằng các thiết bị trinh sát, trang bị vũ khí kỹ thuật tác chiến và các hệ thống điều khiển. Về tổng thể, EC xây dựng và thực hiện tổ hợp các biện pháp nhằm chế áp các hệ thống phòng không của đối phương (Supression of Enemy Air Defences - SEAD) và chế áp các hệ thống chỉ huy tác chiến của đối phương (Command, Control and Communication Countermeasures - CCM).

Để chiếm ưu thế trên không thì cùng với việc chế áp các hệ thống phòng không cần phải chế áp cả các hệ thống chỉ huy tác chiến của đối phương. Trong trường hợp này, EC trực tiếp tham gia giải quyết nhiệm vụ tác chiến, vừa duy trì tính độc lập, vừa đóng vai trò hỗ trợ tích cực. Điều này cho thấy xu hướng đan xen và hòa nhập các nhiệm vụ của EC với các nhiệm vụ của lực lượng không quân.

Mục tiêu của chiến tranh điện tử, theo quan điểm của các chuyên gia NATO, là cần phải chế áp được hoạt động của các phương tiện của đối phương trong các giải phổ bức xạ điện từ được xác định và sử dụng các giải phổ này một cách hiệu quả. Để thực hiện việc này họ đưa ra các biện pháp sau đây: Tổ chức kiểm tra giám sát các giải phổ bức xạ sóng vô tuyến đã xác định; sử dụng các dấu hiệu ngụy trang và bức xạ từ các thiết bị điện tử của đối phương để thu nhận thông tin; loại bỏ khả năng hoạt động của các thiết bị điện tử của đối phương trong giải phổ bức xạ điện từ; đảm bảo duy trì khả năng sử dụng hiệu quả bức xạ điện từ hoàn thành các nhiệm vụ trong điều kiện có nhiễu mạnh và đối phương sử dụng vũ khí hủy diệt; đảm bảo cho hoạt động tác chiến của quân đội.

Tính liên tục và kịp thời đảm bảo cung cấp thông tin chính xác; phân bố tối ưu và sử dụng hợp lý thông tin, phù hợp với mục tiêu, nhiệm vụ, ý đồ và kế hoạch tiến hành chiến dịch; phối hợp sử dụng đồng bộ các thiết bị gây nhiễu và vũ khí hủy diệt cùng với không quân và lục quân; chỉ huy tập trung tác chiến điện tử và thực hiện phân cấp nhiệm vụ thực hiện bằng các lực lượng và phương tiện tương ứng là những nguyên tắc tổ chức và tiến hành tác chiến điện tử quan trọng nhất khi thực hiện các chiến dịch trên không.

Tác chiến điện tử bao gồm các phương thức sau: rút lực lượng và phương tiện khỏi nguy cơ bị tác động của đối phương; sử dụng lực lượng và các phương tiện tác chiến điện tử; chế áp các phương tiện tác chiến điện tử, trinh sát, chỉ huy và vũ khí phòng không của đối phương; tiêu diệt chúng bằng các vũ khí hỏa lực. Bộ chỉ huy không quân Mỹ cho rằng, để đạt được hiệu quả tác chiến điện tử tối đa cần phải sử dụng hợp lý tất cả các phương thức trên, đồng thời phải linh hoạt lựa chọn phương thức thực hiện tùy thuộc vào nhiệm vụ tác chiến, mức độ nguy cơ từ đối phương, trên cơ sở lực lượng và phương tiện sẵn có.

Coi việc chế áp các hệ thống chỉ huy của đối phương là một bộ phận của tác chiến điện tử, Bộ chỉ huy không quân Mỹ đặt mục tiêu làm vô hiệu hóa khả năng chỉ huy các đơn vị của đối phương, trong khi vẫn duy trì được khả năng chỉ huy các đơn vị và phương tiện của mình. Đồng thời cùng với việc chế áp bằng các thiết bị điện tử cần sử dụng các loại vũ khí hỏa lực để tiêu diệt các hệ thống chỉ huy và thông tin lên lạc của đối phương.

Để thực hiện thành công mục tiêu trên, việc đầu tiên là cần phải xác định được chính xác đối tượng cần chế áp - đó là các hệ thống điện tử có tầm quan trọng quyết định trong quá trình tiến hành chiến dịch của đối phương. Việc đánh giá đúng các điểm yếu của đối tượng cần chế áp và thực lực trang thiết bị tác chiến điện tử hiện có là cơ sở để lựa chọn phương thức tối ưu chế áp đối phương: tiêu diệt bằng hỏa lực, tạo nhiễu, tạo thông tin giả, trinh sát vô tuyến nhằm mục đích sử dụng thông tin của đối phương phục vụ cho lợi ích của mình.

(Còn tiếp)

Bảo đảm thông tin liên lạc vững chắc

QĐND – Để bảo đảm cho Chiến dịch Đường 9-Nam Lào, ngay từ quý 2 năm 1970, Bộ tư lệnh Binh chủng Thông tin liên lạc đã điều động phần lớn Trung đoàn thông tin hữu tuyến 132 vào củng cố các tuyến trục nam Quân khu 4 và Đoàn 559; chỉ đạo bảo đảm kỹ thuật, thay đổi trang bị khí tài thông tin cho các sư đoàn cơ động chiến đấu chủ lực của Bộ; bảo đảm trang bị thông tin dự trữ tại các kho tiền phương ở khu vực Trạm cơ vụ A72; bảo đảm kỹ thuật và trang bị khí tài thông tin cho tiểu đoàn thông tin của Binh đoàn 70 mới thành lập.

Chiến sĩ thông tin bảo đảm đường dây thông tin hữu tuyến phục vụ chiến dịch. Ảnh tư liệu.

Binh chủng trang bị một số bộ điện đài thông tin 15W đặt trên xe thông tin cơ động cùng với cơ quan Bộ vào chiến trường phía nam Quân khu 4. Cơ quan thông tin chiến dịch được bảo đảm trang bị, sử dụng Trạm cơ vụ A72, phối hợp lực lượng thông tin của đơn vị triển khai hệ thống hữu tuyến điện trong sở chỉ huy chiến dịch; Bộ tư lệnh Binh đoàn 70 và các đơn vị binh chủng. Đoàn 559 triển khai các đường dây đến các đơn vị trực thuộc và hiệp đồng với Binh đoàn 70, Mặt trận B4, B5, Sư đoàn 2 và các đơn vị. Mặt trận B5 triển khai mạng hữu tuyến điện và bảo đảm kỹ thuật tốt mạng vô tuyến điện sóng cực ngắn và vô tuyến điện tiếp sức. Để có thêm mạch điện đủ sức làm nhiệm vụ, cơ quan thông tin chỉ đạo lực lượng kỹ thuật tăng cường thiết bị kỹ thuật, khí tài cho Trạm cơ vụ A72, củng cố hệ thống thông tin liên lạc đã có, bảo đảm kỹ thuật cho các trạm tiếp chuyển vô tuyến điện sóng cực ngắn để liên lạc với các đơn vị cơ động đánh địch trên các khu vực.

Cơ quan thông tin chiến dịch chỉ đạo lực lượng kỹ thuật bảo đảm trang bị khí tài cho Trạm cơ vụ A78; khẩn trương triển khai Trạm cơ vụ dã chiến A73 và bảo đảm kỹ thuật đường trục liên lạc từ Trạm cơ vụ A37 đến Sư đoàn bộ binh 308. Trong suốt quá trình chiến dịch, lực lượng thông tin liên lạc đã bảo đảm tốt trang bị, khí tài, vật tư kỹ thuật, khắc phục nhanh các tuyến, đoạn, trạm thông tin bị địch đánh phá làm đứt dây và hư hỏng, bảo đảm thông tin liên lạc kịp thời phục vụ chỉ huy chiến dịch.

Hơn 85.000 máy tính tại Việt Nam đã bị lấy cắp dữ liệu

QĐND Online - Ngày 1-8, công ty an ninh mạng Bkav cho biết, đã có ít nhất 85.000 máy tính tại Việt Nam bị lấy cắp dữ liệu vì nhiễm virus của mạng botnet Ramnit. Đây là tình trạng đáng báo động bởi nhiều thông tin quan trọng của các cá nhân, tổ chức tại Việt Nam có thể đã nằm trong tay tin tặc.

Sơ đồ tấn công của tin tặc vào hệ thống máy tính. Ảnh: Bkav

Các chuyên gia của Bkav đã theo dõi và phân tích các biến thể virus, mạng lưới (botnet Ramnit) được tin tặc điều khiển bằng giao thức IRC thông qua nhiều máy chủ đặt ở Mỹ, Nga, Đức và Trung Quốc. Kết quả điều tra cho thấy tin tặc đã tạo lập botnet Ramnit bằng cách phát tán virus qua tất cả các con đường như: USB, khai thác lỗ hổng phần mềm, gửi email đính kèm virus, gửi link qua các chương trình chat… Chính vì thế, chúng dễ dàng lây nhiễm trên số lượng lớn máy tính một cách nhanh chóng.

Sự việc hàng chục nghìn máy tính bị kiểm soát và lấy cắp dữ liệu là một vấn đề hết sức nghiêm trọng, cho thấy tình trạng lọt thông tin tại Việt Nam đang trở nên đáng báo động. Điều này không chỉ gây ra những thiệt hại cho cá nhân người sử dụng máy tính, mà còn đe dọa sự an toàn an ninh của các tổ chức, doanh nghiệp, gây ảnh hưởng đến an ninh quốc gia.

Ông Vũ Ngọc Sơn, Giám đốc bộ phận nghiên cứu của Bkav (Bkav R&D) khuyến cáo: “Từ trước đến nay, chúng tôi chưa gặp virus nào được tổ chức để lây lan một cách bài bản như loại virus này. Chúng có thể lây lan qua tất cả mọi con đường nhằm tối đa sự lây nhiễm vào mục tiêu. Để ngăn chặn, người dùng máy tính cần tuân thủ nguyên tắc không mở USB bằng cách nháy đúp vào ổ đĩa, cập nhật các bản vá lỗ hổng phần mềm, tuyệt đối không mở file đính kèm và không bấm vào các đường link khi chưa rõ nguồn gốc. Ngoài việc nâng cao ý thức, để bảo vệ toàn diện máy tính cần cài đặt phần mềm diệt virus đủ mạnh”.

Để kiểm tra máy tính có nhiễm virus Ramnit hay không, người dùng có thể tải về phần mềm diệt virus Bkav tại địa chỉ Bkav.com.vn. Công ty Bkav cho biết đã cập nhật loại virus này trong cả phiên bản diệt virus miễn phí và phiên bản thương mại.

Gia Linh